Vietnamdefence.com

 

Chuyên gia Nga: Frigate Gepard-3.9 của Hải quân Việt Nam là những chiến hạm đa năng thế hệ mới

VietnamDefence - Frigate lớp Gepard-3.9 là những chiến hạm thế hệ mới, do Viện thiết kế ZPKB phát triển dựa trên một thiết kế cơ sở vạn năng. Ông Sergei Valerievich Ilin, Chủ tịch Hội đồng giám đốc Công ty OAO "Nhà máy Zelenodolsk mang tên А.М. Gorky" (Cộng hoà Tatarstan, Liên bang Nga) cho biết.

Tại Nhà máy đóng tàu Zelenodolsk mang tên A.M. Gorky, ngày 16.3.2010 đã diễn ra sự kiện đáng nhớ - hạ thuỷ frigate thứ hai lớp Gepard-3.9, đóng cho Hải quân CHXHCN Việt Nam. Tháng 12.2009, chiếc tàu đầu tiên thuộc series này cũng đã được hạ thuỷ

Frigate lớp Gepard-3.9 Projekt 11661 là những chiến hạm thế hệ mới, do Viện thiết kế PKB ở Zelenodolsk (ZPKB) phát triển dựa trên một thiết kế cơ sở vạn năng.

Mẫu cơ sở cho các tàu này là tàu tuần tiễu Tatarstan lớp Projekt 11611, được đưa vào biên chế Hải quân Nga năm 2004. Hiện nay, tàu thứ hai cùng loại là Dagestan đang được đóng cho Hải quân Nga theo thiết kế Projekt 11611К có điều chỉnh theo yêu cầu của bên đặt hàng.

Các frigate Gepard-3.9 dành cho Việt Nam được đóng cũng theo các yêu cầu của Hải quân Việt Nam theo hợp đồng trị giá 350 triệu USD do Rosoboronoexport ký năm 2006.

Các tàu này có lượng giãn nước đầy đủ khoảng 2100 tấn, chiều dài 102 m, chiều rộng 13,13 m, mớn nước 5,3 m. Gepardd-3.9 được trang bị hệ thống động lực hỗn hợp diesel-turbine khí (theo sơ đồ CODOG), cho phép đạt tốc độ toàn phần đến 28 hải lý/h.

Khi chạy ở tốc độ tiết kiệm 10 hải lý/h, frigate có cự ly hành trình 5000 hải lý. Khả năng hoạt động độc lập 20 ngày đêm. Việc bố trí hợp lý các phòng ở và công tác, hệ thống điều hoà không khí duy trì môi trường vi khí hậu cần thiết tạo điều kiện làm việc, sinh hoạt thuận lợi, điều rất quan trọng trong điều kiện nhiệt đới.
 

Ông Sergei Valerievich Ilin, Chủ tịch Hội đồng giám đốc Công ty OAO "Nhà máy Zelenodolsk mang tên А.М. Gorky"

Gepard-3.9 là tàu đa năng, dùng để tuần tiễu lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế, tấn công các tàu thuyền của đối phương, chi viện hoả lực cho đổ bộ, bảo đảm phòng không và chống ngầm khi làm nhiệm vụ hộ tống. Bởi vậy, vũ khí của tàu đa dạng và cân đối, bao gồm hệ thống tên lửa chống hạm Uran-E, pháo ụ vạn năng АК-176M 76,2 mm và các hệ thống vũ khí phòng không cỡ nòng nhỏ.

Điều khiển các vũ khí này là hệ thống thông tin-điều khiển chiến đấu tiên tiến Sigma-E. Ở đuôi tàu là sân cất/hạ cánh cho 1 trực thăng. Trên tàu có 1 hăng-ga để chứa trực thăng này, bảo vệ trực thăng tránh tác động của gió và sóng biển.

Các đại diện của Hải quân Việt Nam thường xuyên ghé thăm Nhà máy đóng tàu Zelenodolsk và tiến hành giám sát kỹ càng tiến độ đóng tàu, chất lượng công việc. Tham dự lễ hạ thuỷ tàu Gepard-3.9 thứ hai, Phó Tư lệnh Hải quân Việt Nam, Chuẩn đô đốc Nguyễn Văn Ninh đã cảm ơn các chuyên gia đóng tàu Zelenodolsk về chất lượng công việc và tiến độ thực hiện hợp đồng.

Mùa hè năm nay, cả 2 tàu Gepard sẽ di chuyển tới biển Baltic để thử nghiệm. Việc thực hiện các hợp đồng đóng tàu chiến cho Việt Nam sẽ làm thay đổi tỷ lệ sản phẩm của Nhà máy Zelenodolsk: sản phẩm quân sự sẽ chiếm khoảng 40% và sản phẩm dân sự chiếm 60%, trước đây tỷ lệ này tương ứng là 30% và 70%.

Thiết kế tàu cơ sở Gepard cho phép chế tạo không chỉ các tàu đa năng mà cả các chiến hạm với vũ khí tiến công, chống ngầm và phòng không tăng cường, với các loại hệ thống động lực và trang thiết bị điện tử khác nhau. Dựa trên thiết kế này, ZPKB đã thiết kế các biến thể tàu tuần tiễu ngoài khơi (OPV) với khả năng hoạt động độc lập dài. Các frigate họ Gepard tương đối rẻ so với các tàu cùng loại do nước ngoài đóng.
 

Frigate tàng hình Gepard-3.9 của Hải quân Nhân dân Việt Nam

Hợp tác với ZPKB, Nhà máy Zelenodols mang tên A.M. Gorky đã đóng hơn 600 tàu chiến. Trong đó có các tàu săn ngầm cỡ nhỏ nổi tiếng Projekt 122bis (NATO gọi là Kronshtadt), được xuất khẩu trong thập niên 1950, kể cả cho các nước ở Viễn Đông và Đông Nam Á. Thay thế cho chúng là các tàu săn ngầm cỡ nhỏ Projekt 201 (NATO gọi là SO-1), cũng được xuất khẩu rộng rãi. Các tàu săn ngầm cỡ nhỏ (corvette) thuộc các Projekt 204 (NATO gọi là Poti) và 1124 (Grisha) đang được Hải quân Nga và nhiều nước sử dụng. Trong những năm 1970-1980,

Nhà máy đã cung cấp cho hải quân nhiều nước 14 corvette Projekt 1159 Jaguar (Koni) các kiểu, kể cả kiểu cho vùng nhiệt đới (1159Т) và trang bị tên lửa (1159ТР). Chúng đang được hải quân nhiều nước sử dụng. Nhà máy cũng đã đóng các tàu độc đáo, không có loại tương tự trên thế giới như tàu cánh ngầm săn ngầm lớn nhất thế giới Projekt 1141 Sokol lượng giãn nước 500 tấn do ZPKB thiết kế và các tàu đệm khí tên lửa lớn nhất thế giới Projekt 1239 Sivuch của TsMKB Almaz.

  • Nguồn: Frigate lớp Gepard-3.9 - những chiến hạm thế hệ mới / Sergei Ilin // Oborona, N.3.2010.

Print Print E-mail Print