Vietnamdefence.com

 

Hệ thống tên lửa phòng không S-400 Triumf

VietnamDefence - S-400 Triumf là hệ thống TLPK cơ động tầm xa và siêu xa thế hệ 4+ đa năng, là hệ thống TLPK tiên tiến nhất của Nga hiện nay, và chuẩn hóa hơn để thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ của phòng thủ đường không-vũ trụ đầu thế kỷ XXI.

S-400 Triumf được nhận vào trang bị của quân đội Liên bang Nga ngày 28/4/2007 theo nghị định của Chính phủ Liên bang Nga, mẫu sản xuất loạt của S-400 được chế tạo và đưa vào trực chiến ngày 6/8/2007 tại khu vực thành phố Elektrostal, tỉnh Moskva.

S-400 do TsKB Almaz phát triển dựa trên hệ thống TLPK S-300P nhưng có tính năng cao hơn nhiều, dùng để thực hiện các nhiệm vụ phòng không và phòng thủ tên lửa phi chiến lược hiện nay. Được nhận vào trang bị ngày 28.4.2007. Khác biệt quan trọng của S-400 so với S-300 là các TLPK mới lắp đầu tự dẫn chủ động và tầm bắn xa hơn. S-400 có thể sử dụng để xây dựng hệ thống phòng thủ tên lửa. S-400 có nhiều khả năng để cải tiến, nâng cấp.

 

Radar đa năng 92N6Е là đài radar 3 tọa độ, đơn xung, thế năng cao
sử dụng anten mạng pha kiểu đi qua. Ảnh Georgy Danilov

Thông tin tham khảo

Các tổ hợp và hệ thống TLPK thuộc nhiều thế hệ do Liên hiệp khoa học-sản xuất Almaz phát triển đã được sử dụng rộng rãi tại Nga và nhiều nước trên thế giới trong nửa cuối thế kỷ XX.

Thuộc về thế hệ 1 là hệ thống TLPK cố định tầm trung S-25. Trên cơ sở S-25 cho đến giữa thập niên 1950, Liên Xô đã xây dựng hệ thống TLPK khu vực nhiều tầng phòng thủ thành phố Moskva và khu công nghiệp Moskva.

Sau đó là các hệ thống TLPK thế hệ 2 tầm trung S-75, tầm trung và ngắn S-125 và tầm xa S-200 để bảo đảm phòng không cho các trung tâm công nghiệp, hành chính, các công trình dân sự và quân sự.

Đại diện cho các hệ thống TLPK thế hệ 3, họ TLPK cơ động đa kênh S-300PMU. Hệ thống này đã áp dụng những thành tựu mới nhất thời kỳ cuối thế kỷ XX trong lĩnh vực kỹ thuật tên lửa, radar, điện tử và thông tin, cụ thể là:
- Anten mạng pha cho radar chiếu xạ mục tiêu và dẫn tên lửa, và cho radar phát hiện để bảo đảm khả năng điều khiển linh hoạt các biểu đồ hướng;
- Hệ thống tính toán đa bộ xử lý;
- Lần đầu tiên đã tự động hóa toàn bộ các quá trình của hoạt động chiến đấu (phát hiện, nhận dạng, bám, phân phối mục tiêu, chỉ thị mục tiêu, xử lý thông tin chỉ thị mục tiêu, bắt mục tiêu, bám mục tiêu, bắt, bám và dẫn tên lửa, đánh giá kết quả bắn);
- TLPK nhiên liệu rắn 1 tầng;
- Phương pháp dẫn kết hợp cho TLPK, phương pháp nhị phân - "điều khiển qua tên lửa";
- Phương pháp cất trữ TLPK trong contenơ, không cần kiểm tra định kỳ trong suốt thời gian khai thác;
- Các thiết bị điện tử có sử dụng rộng rãi các vi mạch tích hợp trong.

Các tổ hợp và hệ thống TLPK thế hệ 1 và 2 có thể tác chiến hiệu quả chống máy bay, nhưng chỉ có khả năng hạn chế trong đối phó với máy bay không người lái cỡ nhỏ.

Các hệ thống TLPK thế hệ 3 S-300PMU1, S-300PMU2 Favorit là các hệ thống TLPK đa năng, có khả năng tiêu diệt các phương tiện tấn công đường không khí động, bán đường đạn và đường đạn, kể cả tên lửa đường đạn chiến thuật và chiến dịch-chiến thuật. 

Khi nghiên cứu chế tạo hệ thống TLPK S-400, người ta xuất phát từ các xu hướng phát triển sau đây của các phương tiện tấn công đường không-vũ trụ do các tổ chức chuyên ngành của BQP Nga xác định:

- Tận dụng dải độ cao bay nhỏ và cực nhỏ trong vùng sát thương của các phương tiện hỏa lực PK;

- Độ bộc lộ trong các trường vật lý chủ yếu của phương tiện bay giảm mạnh nhờ sử dụng kết hợp công nghệ Stealth (tàng hình);

- Sự gia tăng về số lượng các phương tiện tiến công đường không-vũ trụ trong các vùng hoạt động của các phương tiện PK nhờ sử dụng các máy bay không người lái;

- Trang bị cho tất cả các phương tiện tấn công những khí tài chế áp vô tuyến điện tử hiệu suất cao;

- Sử dụng vũ khí chính xác cao;

- Mở rộng sản xuất và đưa vào trang bị các tên lửa đường đạn phi chiến lược, trước hết là tên lửa chiến thuật và chiến dịch-chiến thuật, cũng như việc một số nước làm chủ khả năng sản xuất tên lửa đường đạn tầm trung.

Các nguyên tắc cấu trúc cơ bản hệ thống TLPK S-400:

- Cấu trúc mở (khả năng mở rộng khả năng chiến đấu) nhờ kết cấu các phương tiện dạng module;

- Đa năng và khả năng sử dụng các phương tiện của hệ thống để thiết lập các thê đội phòng không các cấp khác nhau;

- Khả năng sử dụng các phương tiện của hệ thống để phòng thủ các mục tiêu hành chính-công nghiệp, cũng như phòng thủ các cụm quân;

- Khả năng bố trí các phương tiện hỏa lực của hệ thống lên các tàu chiến hải quân;

- Khả năng sử dụng các loại đạn TLPK đang sử dụng trong quân đội Nga;

- Khả năng cơ động và chuyên chở cao của các phương tiện của hệ thống;

- Các phương tiện của hệ thống có hiệu quả cao trong điều kiện có chế áp hỏa lực và chế áp vô tuyến điện tử.

Căn cứ vào các nguyên tắc cấu trúc, Nga đã chế tạo các biến thể (kiểu) khác nhau cho S-400. Dưới đây, ta xem xét các tính năng chính của một trong các biến thể xuất khẩu của hệ thống TLPK Triumf.

Tổ hợp radar 91N6E dùng để cung cấp thông tin về mục tiêu bay cho đài điều khiển PBU 55К6Е. Ảnh: Leonid Yakutin

Hệ thống TLPK đa kênh cơ động Triumf ở dạng xuất khẩu được dùng để tiêu diệt các máy bay gây nhiễu, máy bay cảnh giới-báo động sớm và dẫn đường, máy bay trinh sát, kể cả những loại nằm trong cơ cấu của các tổ hợp trinh sát-tấn công, máy bay chiến lược mang tên lửa, tên lửa hành trình, các loại tên lửa chiến thuật và chiến dịch-chiến thuật tầm trung và các loại phương tiện tiến công đường không khác trong điều kiện có đối kháng vô tuyến điện tử cường độ cao.

Cơ cấu của hệ thống TLPK Triumf bao gồm (hình 1):
1. Các khí tài điều khiển 30К6Е bao gồm: đài điều khiển (PBU) 55К6Е, tổ hợp radar 91N6E;
2. Đến 6 tổ hợp TLPK 98Zh6Е, mỗi tổ hợp bao gồm: đài radar đa năng 92N6Е, đến 12 xe chuyên chở kiêm bệ phóng (TPU) 5P85SЕ2, 5P85ТЕ2, mỗi xe lắp được 4 TLPK loại 48N6Е3, 48N6Е2;
3. Cơ số đạn TLPK có điều khiển (kết cấu khí tài và phần mềm của tổ hợp 98Zh6Е cho phép sử dụng các loại TLPK 48N6Е3, 48N6Е2, và cả 48N6Е;
4. Tổ hợp phương tiện bảo đảm kỹ thuật 30Ts6Е.

 

 Hình 1: Cơ cấu hệ thống TLPK S-400 Triumf

Tất cả các phương tiện chiến đấu của hệ thống TLPK được lắp trên khung gầm tự hành bánh lốp có khả năng việt dã cao, có các hệ thống cấp điện, định hướng, trắc đạc, thông tin liên lạc và bảo đảm sinh hoạt độc lập đi cùng. Để bảo đảm cho các phương tiện của hệ thống hoạt động lâu dài liên tục, người ta có dự kiến khả năng cấp điện từ các phương tiện cấp điện bên ngoài.

Người ta cũng dự kiến việc sử dụng các phương tiện của hệ thống TLPK trong các hầm trú ẩn đặc biệt khi các contenơ của radar đa năng, PBU, đài radar được gỡ khỏi khung gầm xe chuyên chở.

Phương thức liên lạc chính giữa các phương tiện của hệ thống là liên lạc vô tuyến điện, ngoài ra còn có các kênh liên lạc hữu tuyến và điện thoại tiêu chuẩn.

Hệ thống còn có thể có cả các máy tiếp phát truyền dữ liệu và liên lạc thoại để có thể bố trí phân tán PBU 55К6Е và tổ hợp TLPK 98Zh6Е cách nhau tới 100 km, cũng như các cột tháp có thể chuyên chở 40V6MR dùng để nâng cao dàn anten của đài radar đa năng 92N6Е khi tác chiến trong rừng và địa hình chia cắt.

Hãng Almaz-Antei là nhà thầu chính phát triển tổng thể hệ thống TLPK, phát triển đài PBU, tổ hợp TLPK, radar đa năng của tổ hợp TLPK, khí tài tự động phóng cho các bệ phóng, máy móc vô tuyến điện tử của TLPK và phần mềm-thuật toán cho các phương tiện trên. Hãng MKB Fakel chịu trách nhiệm chính phát triển TLPK, Viện NCKH các phương tiện đo lường phát triển tổ hợp radar phát hiện cho đài chỉ huy của hệ thống, hãng KB Chế tạo máy đặc biệt phát triển bệ phóng, ngoài ra còn có nhiều hãng nổi tiếng khác trong lĩnh vực vũ khí trang bị PK.

Tính năng kỹ-chiến thuật cơ bản của hệ thống TLPK S-400 Triumf:

Cự ly phát hiện mục tiêu tối đa, km: 600

Số lượng mục tiêu có thể bám đồng thời: Đến 300

Số lượng mục tiêu có thể bắn đồng thời: Đến 32

Số lượng tên lửa có thể dẫn đồng thời: Đến 72

Khu vực sát thương:

- Đối với mục tiêu khí động:
+ Tầm bắn, km: 3-250;
+ Độ cao, m: 10-27000;

- Đối với tên lửa đường đạn:
+ Tầm bắn, km: 5-60;
+ Độ cao, m: 2000-27000;

Tốc độ hướng tâm của mục tiêu, m/s: 0-4800

Thời gian triển khai/thu hồi, phút: 5

Tốc độ di chuyển của các phương tiện chiến đấu, km/h:

- Trên đường cứng: Đến 60;
- Trên đường đất: Đến 40;
- Trên địa hình chia cắt: Đến 25.

Dự trữ khai thác của các phương tiện chiến đấu:

- Cho đến lúc đại tu, giờ: 10000;
- Tuổi thọ, năm: 20.

Chức năng và tính năng chính các khí tài của hệ thống TLPK Triumf

Các khí tài điều khiển 30К6Е dùng để:

- Điều khiển hoạt động chiến đấu của các phương tiện hỏa lực:

  • Tổ hợp TLPK 98Zh6Е của hệ thống Triumf;
  • Hệ thống TLPK S-300PMU2;
  • Hệ thống TLPK S-300PMU1;
  • Hệ thống TLPK S-300PMU2 Favorit thông qua hệ thống điều khiển 83М6Е2, hệ thống TLPK S-300PMU1 thông qua hệ thống điều khiển 83М6Е;
  • Hệ thống TLPK Tor -М1 thông qua đài chỉ huy đại đội Ranzhir-М;
  • Hệ thống pháo-TLPK Pantsir-S thông qua xe chiến đấu chính hay qua đài chỉ huy đại đội của nó;
  • Hệ thống TLPK của khách hàng nước ngoài nếu tiến hành thêm một số công việc để bảo đảm khả năng tương thích về thông tin và kỹ thuật của hệ thống điều khiển 30К6Е;

- Thu nhận thông tin đường bay từ các phương tiện radar:

  • Các tổ hợp radar tăng cường 91N6E;
  • Radar phát hiện mọi độ cao có hiển thị đường bay 96L6Е, Protivnik-GЕ, Gamma-DE.

- Bảo đảm sự phối hợp:

  • Với các đài chỉ huy cấp trên do Nga sản xuất như kiểu Baikal-E...;
  • Với các phương tiện điều khiển 30К6Е, 83М6Е, 83М6Е2 lân cận;
  • Với các đài chỉ huy phối hợp của lữ đoàn TLPK kiểu Polyana-D4M1;
  • Với các sở chỉ huy phối hợp của không quân tiêm kích do Nga sản xuất.

Khi xuất khẩu, theo yêu cầu của bên đặt hàng, để tích hợp vào hệ thống phòng thủ của bên đặt hàng, sẽ tiến hành thêm một số công việc cải tiến 30К6Е nhằm bảo đảm khả năng liên kết thông tin-kỹ thuật với các phương tiện PK của bên đặt hàng.

PBU 55К6Е dùng để điều khiển tự động hóa hoạt động chiến đấu của hệ thống TLPK dựa trên thông tin từ các nguồn của bản thân, các nguồn phối thuộc và các nguồn phối hợp.

Đài điều khiển 55К6Е điều khiển hoạt động chiến đấu của các phương tiện hỏa lực, bảo đảm:

  • Lập và phát lệnh đưa các phương tiện vào trạng thái sẵn sàng chiến đấu và hiển thị báo cáo phản hồi của chúng về tình trạng sẵn sàng chiến đấu;
  • Điều khiển các chế độ làm việc của tổ hợp radar 91N6E, trong đó có các chế độ nhận dạng quốc tịch của các mục tiêu;
  • Tiếp nhận, xử lý và hiển thị thông tin radar từ các tổ hợp TLPK, hệ thống TLPK có điều khiển, cũng như thông tin từ các sở chỉ huy cấp trên, từ các khí tài điều khiển lân cận, các phương tiện radar;
  • Thực hiện các nhiệm vụ xác định cự ly đến phương tiện rải nhiễu tích cực theo thông tin phương vị do tổ hợp radar 91N6E và radar của của các tổ hợp TLPK (hệ thống TLPK) cung cấp;
  • Lựa chọn các mục tiêu cần tiêu diệt, phân phối các mục tiêu cho các tổ hợp TLPK và hệ thống TLPK và truyền dữ liệu chỉ thị mục tiêu tới tổ hợp TLPK (hệ thống TLPK, tổ hợp tên lửa-pháo PK);
  • Điều khiển tình trạng các khu vực chiến đấu của tổ hợp TLPK  (hệ thống TLPK, tổ hợp tên lửa-pháo PK);
  • Điều khiển hoạt động chiến đấu và phối hợp của tổ hợp TLPK  (hệ thống TLPK, tổ hợp tên lửa-pháo PK);
  • Tiến hành luyện tập độc lập hoặc cùng với tổ hợp TLPK  (hệ thống TLPK) cho kíp chiến đấu;
  • Truyền thông tin về các mục tiêu, tình trạng chiến đấu và các hoạt động chiến đấu của tổ hợp TLPK  (hệ thống TLPK) lên các đài chỉ huy cấp trên, thu nhận và xử lý thông tin điều khiển từ đài chỉ huy cấp trên;
  • Phối hợp với các khí tài chỉ huy và các đài chỉ huy radar lân cận, với đài radar có hiển thị đường bay;
  • Thu nhận và hiển thị thông tin radar từ các đài radar thụ động của trinh sát kỹ thuật;
  • Ghi chép các hoạt động chiến đấu của khí tài điều khiển 30К6Е и tổ hợp TLPK  (hệ thống TLPK) trong quá trình chiến đấu hoặc luyện tập, tái tạo thông tin được đăng ký ở cấp thời gian thực trên các bảng công tác và màn hiển thị, cũng như đưa ra in ấn kết quả tổng kết của hoạt động chiến đấu hay luyện tập.

Đài điều khiển (PBU) 55К6Е dùng để điều khiển tự động hóa hoạt động chiến đấu của hệ thống TLPK dựa trên thông tin từ các nguồn của bản thân, các nguồn phối thuộc và các nguồn phối hợp trong điều kiện chiến đấu phức tạp. Ảnh: Leonid Yakutin

PBU 55К6Е có trang bị hiện đại: tổ hợp máy tính số Elbrus-90 Mikro, các khí tài, phượng tiện truyền dữ liệu, khí tài của các hệ thống truyền dữ liệu và liên lạc thoại nội bộ, khí tài liên lạc vô tuyến điện với tổ hợp radar 91N6E, khí tài liên lạc phóng thanh, hệ thống trắc đạc địa hình dẫn đường bay và định hướng.

Trong xe PBU 55К6Е có 5 vị trí công tác (hình 2), gồm:
- Vị trí của chỉ huy hệ thống phòng không;
- Vị trí của trắc thủ kiểm soát tình hình trên không;
- 2 vị trí của các sĩ quan điều khiển phương tiện hoả lực;
- Vị trí của nhân viên bảo đảm kỹ thuật và chiến đấu.
Các vị trí công tác đều được lắp các màn hiển thị màu đa năng, tinh thể lỏng cỡ 18 inch.
PBU 55К6Е có các thông số trọng lượng-kích thước nhỏ hơn 2 lần PBU tương tự của hệ thống TLPK S-300PMU1.

Hình 2: Toàn cảnh các vị trí công tác 
của PBU 556KE

Tổ hợp radar 91N6E dùng để bảo đảm dữ liệu radar cho PBU 55К6Е và cho phép:
- Phát hiện và bám các mục tiêu khí động và đường đạn;
- Xác định quốc tịch của các mục tiêu;
- Xác định hướng phương vị của các phương tiện gây nhiễu tích cực. 

Để thích ứng tối đa với tình hình trên không, trong tổ hợp radar 91N6E có các chế độ quan sát vòng và quan sát khu vực khác nhau, trong đó có chế độ với cơ cấu dẫn động quay anten bị hãm và anten mạng pha ở góc nghiên. Để sử dụng hiệu quả năng lượng, tổ hợp radar sử dụng anten mạng pha 2 chiều kiểu đi qua quét tia 2 trục.

Để bảo đảm khả năng chống nhiễu, tổ hợp radar 91N6E tiến hành phân tích tình huống nhiễu,  sắp xếp lại bằng điện tử đối với sóng mang từ xung sang xung, áp dụng các chế độ quan sát khu vực đặc biệt thế năng cao.

Tổ hợp TLPK 98Zh6Е

Tổ hợp TLPK  98Zh6Е bảo đảm đảm nhiệm các nhiệm vụ chiến đấu khi được điều khiển bằng khí tài điều khiển 30К6Е, cũng như khi tiến hành các hoạt động chiến đấu tự hoạ. Các hoạt động chiến đấu tự hoạt được của tổ hợp TLPK  98Zh6Е của hệ thống TLPK Triumf được bảo đảm theo kết quả sục sạo mục tiêu của radar đa năng 92N6Е trong khu vực trách nhiệm, cũng như theo dữ liệu nhận được từ đài radar hiển thị đường bay phối thuộc cho tổ hợp TLPK  98Zh6Е.

Radar đa năng 92N6Е giải quyết các nhiệm vụ sau đây:
- Tìm kiếm mục tiêu theo thông tin chỉ thị mục tiêu hoặc ở chế độ tự hoạt, bắt mục tiêu để tự bám, kể cả trong điều kiện có tác động của nhiễu tích cực và tiêu cực, vật thể sao băng và phản xạ từ các vật thể địa hình;
- Kiểm tra quốc tịch của các mục tiêu bị bám;
- Lựa chọn mục tiêu để tiêu diệt, tự động giải quyết nhiệm vụ phóng, bố trí việc chuẩn bị, phóng, bắt, bám và dẫn TLPK tới các mục tiêu bị bám, bảo đảm kích nổ phần chiến đấu và tự động đánh giá hiệu quả chiến đấu.

Radar đa năng 92N6Е là radar 3 tọa độ đơn xung, thế năng cao dùng anten mạng pha kiểu đi qua với cách tổ hợp tín hiệu khác nhau. Có có khả năng bám đường bay đồng thời đến 100 mục tiêu và bám chính xác đến 6 mục tiêu trong mọi điều kiện chiến đấu.
Ảnh: Georgy Danilov 

92N6Е là đài radar 3 toạ độ, đơn xung, thế năng cao sử dụng anten mạng pha kiểu đi qua với cách tổ hợp tín hiệu khác nhau. Đài radar đa năng có khả năng bám đường bay tới 100 mục tiêu và bám chính xác tới 6 mục tiêu trong mọi điều kiện tác chiến. Radar đa năng 92N6Е tiến hành trao đổi thông tin tự động với phương tiện điều khiển 30К6Е.

Việc sử dụng trong radar đa năng 92N6Е tổ hợp máy tính hiệu suất cao hiện đại Elbrus-90 Mikro kết hợp với khí tài tạo và xử lý tín hiệu hiện đại cho phép phát huy khả năng chiến đấu cao của radar đa năng trong điều kiện ứng dụng chiến đấu khác nhau nhờ:
- Áp dụng các tín hiệu dò đa dạng với năng lượng và độ dài khác nhau;
- Điều khiển linh hoạt các tham số của tia radar;
- Tốc độ quay thay đổi đối với các mục tiêu và tên lửa.

Đài radar đa năng áp dụng các biện pháp triệt để để cải thiện chất lượng trấn áp nhiễu ồn che chắn tích cực.  

Cơ số đạn của hệ thống TLPK Triumf gồm các TLPK có điều khiển 48N6Е3, 48N6Е2, dùng để tiêu diệt các mục tiêu khí động và đường đạn ở dải rộng độ cao, tầm và tốc độ.
TLPK có điều khiển 48N6Е3 và 48N6Е2 với tầm bắn lần lượt là 250 km và 200 km có cấu trúc khác nhau và đầu tự dẫn bán chủ động làm việc với các mục tiêu có tốc độ tương ứng là đến 4800 m/s và 2800 m/s, cũng như phần chiến đấu thích ứng cải tiến được phát triển đặc biệt để nâng cao hiệu quả tiêu diệt các mục tiêu đường đạn.
Tên lửa 48N6Е3, 48N6Е2 (hình 3) là các tên lửa một tầng, nhiên liệu rắn, thiết kế theo sơ đồ khí động thông thường, phóng thẳng đứng bằng máy phóng từ các contenơ chuyên chở-phóng.

Về cấu tạo, tên lửa 48N6Е3, 48N6Е2
bao gồm:
- Động cơ nhiên liệu rắn với các bộ mồi cháy thuốc nổ kỹ thuật;
- Thiết bị trên khoang (đầu tự dẫn bán chủ động, máy thu-đáp để trao đổi thông tin theo kênh liên lạc Tên lửa - Đài radar đa năng, máy lái tự động);
- Trang bị chiến đấu (phần chiến đấu, ngòi nổ vô tuyến, cơ cấu bảo hiểm-thừa hành);
- Nguồn nuôi trên khoang. 

Các xe chuyên chở/bệ phóng 5P85SЕ2, 5P85ТЕ2 cho phép bố trí, cất giữ, chuyên chở và tự động chuẩn bị trước khi phóng và phóng TLPK có điều khiển từ các contenơ chuyên chở/phóng (TPK), cũng như truyền thông tin về tình trạng của các TPU và tên lửa tới đài radar đa năng. Trên một TPU 5P85SЕ2, 5P85ТЕ2 bố trí tới 4 quả đạn TLPK có điều khiển 48N6Е3(48N6Е2).


Tính năng kỹ-chiến thuật cơ bản của tên lửa:
 

Tầm bắn tối đa: 48N6E3 (48N6E2), m/s: 250 (200)

Tốc độ bay tối đa của mục tiêu: 48N6E3 (48N6E2), m/s: 4800 (2800)

Kích thước tên lửa: chiều dài x đường kính, mm: 7500 x 515

Trọng lượng tên lửa 48N6E3 (E2) tính cả contenơ chứa, kg: 2635

Trọng lượng tên lửa 48N6E3 (E2) không tính contenơ chứa, kg: 1835

Trọng lượng phần chiến đấu của tên lửa 48N6E3 (E2), kg: 180

Tốc độ bay tối đa, m/s: 2000

Tuổi thọ khai thác, năm: 15

So với hệ thống TLPK S-300PMU1, biến thể xuất khẩu của hệ thống TLPK Triumf vừa giới thiệu có một số điểm vượt trội sau:

- Chủng loại mục tiêu có thể tiêu diệt được mở rộng tới các mục tiêu có tốc độ bay 4800 m/s (tên lửa đường đạn tầm trung có tầm bắn tới 3000-3500 km);

- Mở rộng cơ bản khu vực sát thương đối với các mục tiêu cỡ nhỏ và mục tiêu tàng hình (cự ly tiêu diệt tăng 50 %) nhờ tăng thế năng của tổ hợp radar 91N6E và radar đa năng 92N6Е;

- Nâng cao cơ bản khả năng chống nhiễu của hệ thống nhờ áp dụng các phương tiện bảo vệ chống nhiễu mới;

- Nâng cao cơ bản độ tin cậy, giảm được thể tích và mức tiêu thụ năng lượng của các khí tài của hệ thống nhờ áp dụng máy móc vô tuyến điện tử hiện đại hơn, thiết bị cấp điện  độc lập mới và phương tiện vận tải mới.

Aleksandr Alekseyevich Lemansky, Tổng công trình sư của hệ thống TLPK Triumf, nhà hoạt động khoa học công huân Liên bang Nga, TS KHKT, GS
Igor Raufovich Ashurbeily, TGĐ ОАО GSGB Almaz-Antei mang tên VS А. А. Raspletin, PTS KHKTNikolai Eduardovich Nenartovich, Phó Tổng công trình sư thứ nhất ОАО GSGB Almaz-Antei, PTS KHKT  

  • Nguồn: ЗРС С-400 "Триумф": обнаружение - дальнее, сопровождение - точное, пуск - поражающий, VKO.-N.4/2008

Print Print E-mail Print